Đặc điểm các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, Nông Việt Phát

Bởi seodocontent
71 Lượt xem

Đặc điểm những thời kỳ sinh trưởng của cây lúa

Quá trình tăng trưởng của cây lúa được chia thành 3 thời kỳ sinh trưởng và 10 quá trình tăng trưởng .

Quá trình phát triển của cây lúa được chia thành 3 thời kỳ sinh trưởng và 10 giai đoạn phát triển.

Thời kỳ sinh dưỡng bao gồm các giai đoạn.

– Giai đoạn trương hạt.
– Giai đoạn hạt nảy mầm.
– Giai đoạn đẻ nhánh.
– Giai đoạn phát triển lóng thân (Cây lúa đẻ nhánh tối đa).

Thời kỳ sinh thực.

– Giai đoạn phân hóa (Làm đòng).
– Giai đoạn trỗ bông.
– Giai đoạn nở hoa, thụ phấn, thụ tinh.

Thời kỳ chín.

– Giai đoạn hạt chín sữa.
– Giai đoạn hạt chín sáp.
– Giai đoạn hạt chín hoàn toàn.

Sơ đồ phát triển của cây lúa.
Ngâm ủ hạt giống -> gieo mạ -> cấy lúa -> đẻ nhánh -> phân hóa đòng (Làm đòng) -> trỗ bông -> chín.

Các giai đoạn phát triển của cây lúa

Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng .

– Ảnh hưởng nhiều bởi nhiệt độ, ánh sáng, chăm sóc và phân bón.
– Thời gian trong thời kỳ này tùy thuộc vào giống lúa.
– Từ gieo đến đẻ nhánh tối đa.

Đặc điểm của thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa.
– Trong thời kỳ này số nhánh và diện tích lá tăng lên một cách tối đa và kết thúc ở cuối thời kỳ (Đẻ nhánh tối đa).
– Các yếu tố nhiệt độ, thời gian chiếu sáng trong ngày anh hưởng rất lớn thời gian của thời kỳ này.
– Các
– Ngoài ra kỹ thuật chăm sóc, lượng phân bón cũng ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa.- Trong thời kỳ này số nhánh và diện tích quy hoạnh lá tăng lên một cách tối đa và kết thúc ở cuối thời kỳ ( Đẻ nhánh tối đa ). – Các yếu tố nhiệt độ, thời hạn chiếu sáng trong ngày anh hưởng rất lớn thời hạn của thời kỳ này. – Các giống lúa có thời hạn sinh trưởng sinh dưỡng khác nhau thì thời hạn của thời kỳ này cũng khác nhau. những giống càng dài ngày thì thời hạn sinh trưởng sinh dưỡng càng dài. – Ngoài ra kỹ thuật chăm nom, lượng phân bón cũng ảnh hưởng tác động đến thời hạn sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa .

Giai đoạn mạ .

Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của cây mạ có thể chia ra thời kỳ mạ ra 2 thời kỳ nhỏ: Thời kỳ mạ non và thời kỳ mạ khỏe.

– Thời kỳ mạ non được tính từ lúc gieo đến khi ra được 3 lá thật. Thời klỳ này khả năng chống chịu của cây mạ kém.
– Thời kỳ mạ khỏe tính từ cây mạ có 4 lá thật cho đến khi nhổ cây. Cây ạm chuyển sang thời kỳ sống tự lập. Thời kỳ này chiều cao cây mạ tăng rõ rệt, có thể ra 4-5 lứa rễ. do vậy khả năng chống chịu cũng tăng lên rõ rệt.

Tùy thuộc vào giống, mùa vụ, phương pháp, kỹ thuật làm mạ,… Mà thời kỳ mạ dài hay ngắn . 
Thời kỳ mạ có ý nghĩa đáng kể trong toàn bộ quyá trình sinh trưởng của cây lúa. Nếu tạo được mạ tốt, mạ khỏe là một cơ sở tốt trong quá trình đẻ nhánh và các giai đoạn sinh trưởng tiếp theo diễn ra một cách thuận lợi.

Giai đoạn đẻ nhánh.

Đây cũng là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ đời sống của cây lúa và quá trình tạo năng suất cây ;úa sau này.
Ở thời kỳ đẻ nhánh, cây lúa sinh trưởng nhanh và mạnh. Thời kỳ này cây láu tập trung vào các quá trình phát triển của bộ rễ, ra lá và đẻ nhánh.

 Thời kỳ đẻ nhánh là thời kỳ quyết định đến sự phát triển diện tích là và số bông, do đó cần chú ý kỹ thuật nhằm làm tăng diện tích lá để tăng khả năng quang hợp và tăng số bông hữu hiệu là yếu tố quan trọng để tăng năng xuất lúa.

 

Thời kỳ sinh trưởng sinh thực .

– Thời gian ổn định, khoảng trong từ 27 – 35 ngày.
– Từ làm đòng đến thụ tinh.

Giai đoạn phân hóa hoa (Làm đòng).

Giai đoạn phân hóa hoa và hình thành cơ quan sinh sản ( Còn gọi là quy trình làm đòng ) là quy trình phân gié, hình thành nhị và nhụy lúa .

Giai đoạn trỗ bông.

Đòng sau khi phân háo xong thì trỗ ra ngoài do sự tăng trưởng rất nhanh của lóng trên cùng, khi hàng loạt bông lúa thoát ra khỏi bẹ lá là kết thúc tiến trình trỗ bông .

Gia đoạn nở hoa, thụ phấn, thụ tinh .

Giai đoạn này hoàn toàn có thể mở màn cùng với quy trình trỗ bông hoặc sau khi lúa trỗ xong ( Tùy theo giống lúa ). Nhưng tuân thủ theo nguyên tắc : Các hoa ở đầu bông và đầu gié nở trước, những hoa ở gốc bông nổ sau cuối ,. Khi hoa hoa lúa nở, phơi màu cũng là khi hạt lúa được thụ phấn, thụ tinh .

 

Thời kỳ chín .

– Thời gian ổn định, khoảng 30 ngày.
– Sau khi thụ tinh đến chín.

Giai đoạn chín sữa.

Bắt đầu khi phơi màu từ 5-7 ngày, chất dự trữ trong hạt lúa ở dạng lỏng và trắng như sữa, hình dạng hạt lúa đã hình thành. sống lưng hạt lúa có màu xanh, khối lượng hạt trong quá trình này rất nhanh, hoàn toàn có thể đạt 75-80 % khối lượng ở đầu cuối của hạt lúa .

Giai đoạn chín sáp .

Là quá trình mà chất dịch trong hạt lúa từ từ đặc lại, khiến cho hạt lúa cứng, màu xanh ở sống lưng hạt dần chuyển thành màu vàng và tiến trình này khối lượng hạt thóc liên tục tăng lên .

Giai đoạn chín trọn vẹn .

Vỏ trấu từ màu vàng chuyển sang màu vàng nhạt và hạt lúa chắc cứng. Cũng là lúc hạt thóc đạt khối lượng tối đa .

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Để lại bình luận