Thứ trời cho trong thơ Xuân Diệu

Một thứ trời cho, ấy là cái ánh sáng tinh khôi rọi lên trong khoảng trống Xuân Diệu, làm cho cảnh sắc và con người có vẻ như độc lạ, sáng hơn, sống hơn, ấn tượng hơn .

Cách mạng Tháng tám – 1945 thành công xuất sắc, Xuân Diệu mới vào tuổi ba mươi, nhưng ông đã nổi tiếng với hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Chúng ta biết trào lưu Thơ mới khai sinh nền thơ văn minh khẳng định chắc chắn thắng lợi bằng tập Mấy vần thơ ( xuất bản lần đầu năm 1935 ) của Thế Lữ .

Nhưng khi Xuân Diệu xuất hiện với tập Thơ thơ (1939), do chính Thế Lữ giới thiệu, thì phong trào Thơ mới mới chiếm thế thượng phong và Xuân Diệu trở thành nhà thơ có ảnh hưởng nhất thời kỳ ấy. Lứa trước nhìn ra tài năng của lứa sau và lứa sau trân trọng thành tựu của lứa trước trên một thi đàn đang cách tân biến động chưa từng có quả là một dấu son tươi thắm trong tiến trình văn chương nước ta.

Xuân Diệu đã mang thêm gì cho nền thơ Việt hồi ấy ?

Lãng mạn kiểu Xuân Diệu

Tôi xin phép không nhắc lại những điều đã được nói mà muốn tìm trong thi pháp ông một góp phần “ mác ” Xuân Diệu vào nền thơ dân tộc bản địa. Ấy là góp phần một khoảng trống, một quốc tế Xuân Diệu. Các cụ cổ xưa không có khuynh hướng tạo khoảng trống đặc trưng. Sâu sắc, thâm trầm, khái quát … nhưng khoảng trống thơ vẫn là khoảng trống thực, khoảng trống chung của cõi người .Thế Lữ và đôi lúc Tản Đà, vươn tới phi thực bằng cách bay lên tiên. Tiên thì lãng mạn quá rồi nhưng mất dấu mặt đất nó thiếu chất diệp lục của sự sống, của nắng trời. Ôm cô tiên đẹp thì khác gì ôm bức tượng cẩm thạch. Xuân Diệu ôm “ cô ” trần gian bằng toàn bộ xúc cảm trần gian của chính ông hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi .Lãng mạn Thế Lữ là lãng mạn tiên cảnh kiêng khem và vô trùng. Lãng mạn Xuân Diệu nồng ấm da thịt trần gian đa sự, giàu sức sống. Xuân Diệu bám lấy trần gian rồi kỳ ảo hóa nó, tạo nên một trần gian kỳ ảo. Kỳ ảo mà đậm vị trần gian. Thơ Nước Ta trước Xuân Diệu chưa có khoảng trống ấy. Cảm được trời xanh đang đổ màu ngọc bích của mây chiều xuống muôn lá là thần tiên hóa buổi chiều của mặt đất nơi ta sống. Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền. Nhưng ngay đó, vẫn kỳ ảo nhưng sực nức hương và vị mặt đất : Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang, nắng trở chiều Rồi : Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cánh phân vân Chim nghe trời rộng giang thêm cánh Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần.

Các chi tiết ấy là chất thực của đời, nhưng tạo nên mối liên hệ rất kỳ ảo giữa các chi tiết ấy là do chất xúc tác của tâm hồn Xuân Diệu. Con đường nhỏ nhỏ nên ngọn gió phải xiêu xiêu cho hợp con đường ấy. Mây bay gấp làm cánh cò hóa phân vân. Trời rộng làm chim phải giang rộng cánh để chở che, để lấp đầy. Trời rộng nên hoa lạnh. Hoa lạnh nên chiều thành thưa vắng, chiều làm động lòng cho sương xuống mau. Tạo vật bù trì nhau mà cộng hưởng với hồn người. Hồn người thì cảm giác hóa, tri giác hóa tạo vật.

Ngẩng đầu thi sĩ chưa xong nhớ Hoa bưởi thơm rồi : đêm đã khuya. Trong cặp câu thơ này Xuân Diệu lắng nghe mối giao cảm giữa người với trời với nhịp đi của khoảng trống hương và thời hạn đêm. Nhà thơ Beaudelaire ý tưởng ra mối đối sánh tương quan của mùi hương, sắc tố và âm thanh ( les parfums, les couleurs et les sons se répondent ), Xuân Diệu thì thấy tổng thể trong thiên hà này đều tương hợp. Hương thì thơm rồi và đêm thì đã khuya nghĩa là đã có quy trình mà thi sĩ vẫn chưa xong nhớ. Cơn nhớ trời cao hay cơn lắng nghe lòng mình vẫn chưa triển khai xong. Những mối đối sánh tương quan tạo vật được nhận ra bằng cảm xúc, bằng tâm linh. Nó vô chứng cớ nhưng nghe ra có lý và nhất là có tình. Nó là đặc trưng Xuân Diệu, cái ăng-ten tâm hồn ông tỏa ra tám hướng, bắt nhiều cung bậc tần số và hòa trộn chúng tức thời tạo thành một chỉnh thể đan cài vật chất với tâm linh, hư ảo hư vô mà thấm thía tình nghĩa cuộc sống mặt đất …

Vĩnh cửu hóa khoảnh khắc

Không gian Xuân Diệu còn là khoảng trống của khoảnh khắc. Ông dùng thơ vĩnh cửu hóa khoảnh khắc đó lại. Vĩnh cửu trong sự sống chứ không phải làm nó hóa thạch. Thơ Xuân Diệu không chụp ảnh. Mà là quay phim. Nó là khoảng trống bốn chiều, có chiều của thời hạn Vườn rau hoa cải tưng bừng / Đang bay, dừng lại nửa chừng, lại bay … Nếu chỉ tả vườn rau với hoa cải bay, thì có đủ hai cụ thể đấy nhưng không thấy quỹ đạo hoa bay thì không ra khoảng trống Xuân Diệu. Nó bẹp lại, bất động như tấm ảnh. Xuân Diệu có hơn nửa thế kỷ phát minh sáng tạo thơ. Từ Cách mạng Tháng tám – 1945, càng về sau ông càng gắn thơ vào việc làm đơn cử của đời sống, ông xuất hiện ở những mảng đề tài cần được cổ vũ biểu dương. Thơ có đích nhân sinh để vươn tới, vươn tới bằng cảm hứng, cố nhiên, nhưng cũng bằng cả ý thức công dân. Đó là sự lao vào đáng quý của người cầm bút đã tự nguyện tập hợp dưới cờ cách mạng .Nhưng thành tựu của tác phẩm lại không trọn vẹn sát cánh với tâm nguyện ấy. Không gian thơ Xuân Diệu, quốc tế đời thực được kỳ ảo hóa, nổi trội nhất có lẽ rằng ở tập thơ đầu Thơ thơ ( 1939 ), còn sau đó ông xâm nhập sâu hơn vào việc đời, chuyện đời và chủ trương chân chân thực thật. Thế giới tạo vật trong thơ Xuân Diệu khác đi nhiều. Thành công của ông không ở phía kỳ ảo hóa cuộc sống mặt đất nữa mà lại trội hơn ở những phát hiện sâu nặng về đời và sức cảm nhận tinh xảo .Nó là một hướng biến hóa của năng lượng Xuân Diệu. Nó không lạ hóa để thành huyền diệu. Nó để mộc, miêu tả đơn giản và giản dị, có phần ngây thơ nữa, nhưng nó lắng nghe vào cốt lõi của cảm hứng để phát hiện ra phần tinh túy của đời sống, thấm đẫm tình yêu đất đai xứ sở. Tôi nghĩ Xuân Diệu sau này dùng một thao tác ngược với thời trẻ : ông trần gian những cảm nhận kỳ diệu, từ tình yêu sâu nặng của mình với cuộc sống. Ấy là bài thơ Đêm ở Tỉnh Thái Bình, giữa những câu miêu tả cảnh quê đúng mực bằng mắt nhìn, bằng tai nghe, ân cần chịu khó bỗng lạc vào một cảm nhận có tính phát hiện : Nhất là chó sủa văng vẳng hay hay Nói xóm làng, nói nhà cửa đêm nay Thấy chó sủa là hay hay thì đúng là phát hiện của ông khách tỉnh về quê, cái gì cũng lạ. Nhưng đến câu sau, nhận ra cái tiếng chó sủa trong đêm quê ấy nó nói hồn vía của xóm làng, của nhà cửa đêm nay, thì cảm nhận của nhà thơ tài tình quá, ông cho người đọc phân biệt một cảm xúc sâu nặng về hồn quê. Tôi thú thực sau khi đọc câu thơ này, tôi thấy tiếng chó sủa ở đêm quê trọn vẹn khác trước. Nghe chó sủa mà tưởng tượng ra làng mạc bao đời, mà thương nhớ rất lâu rồi. Kỳ ảo hóa mặt đất trước kia hay trần gian hóa cảm hứng giờ đây, cả hai bổ trợ cho nhau và cùng nâng hiện thực lên cao hơn chính nó. Khi ông nghe tiếng đàn kỳ ảo thuở nào : Đàn ghê như nước lạnh trời ơi …

Long lanh tiếng sỏi, vang vang hận

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người Mấy câu thơ này quả có óng ả hơn Đêm ở Tỉnh Thái Bình. Mộc mạc hay óng chuốt là chiều khẩu vị của từng thời nhưng nội lực tò mò trong hai dạng cảm thụ này có chung một nguồn là tạng xúc cảm trữ tình thành viên của Xuân Diệu đã hòa trộn từ gốc với chiêm nghiệm văn hóa truyền thống dân tộc bản địa. Nghiêng về phía trước ( trữ tình ) thì thành kỳ ảo. Nghiêng về phía sau ( chiêm nghiệm ) thì đậm vị trần gian .Còn gì nữa. Còn nhiều. Nhưng đại cương chỉ trong hai vòng ấy. Có chăng, cần kể thêm một thứ trời cho, ấy là cái ánh sáng tinh khôi rọi lên trong khoảng trống Xuân Diệu, làm cho cảnh sắc và con người có vẻ như độc lạ, sáng hơn, sống hơn, ấn tượng hơn với khoảng trống thực ở ngoài đời .

Rate this post

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

BÀI ĐĂNG LIÊN QUAN

spot_img

BÀI ĐĂNG GẦN ĐÂY